ĐA chuẩn hóa NLNN

Thực trạng(24-03-2014)

Hiện nay, ĐHTN có 10 đơn vị đào tạo, gồm 7 trường đại học, 1 trường cao đẳng, 2 khoa trực thuộc với tổng số 2.549 cán bộ giảng dạy. Trong đó, số cán bộ giảng dạy có trình độ thạc sỹ là 1.669 người (chiếm 65 %), số cán bộ có trình độ giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ là 437 người (chiếm tỷ lệ 17 %). Ngoài ra, Đại học đang có nhiều cán bộ giảng dạy đang theo học các chương trình thạc sĩ, tiến sĩ và tương đương.

1. Thực trạng năng lực ngoại ngữ của cán bộ giảng dạy

 Hiện nay, ĐHTN có 10 đơn vị đào tạo, gồm 7 trường đại học, 1 trường cao đẳng, 2 khoa trực thuộc với tổng số 2.549 cán bộ giảng dạy. Trong đó, số cán bộ giảng dạy có trình độ thạc sỹ là 1.669 người (chiếm 65 %), số cán bộ có trình độ giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ là 437 người (chiếm tỷ lệ 17 %). Ngoài ra, Đại học đang có nhiều cán bộ giảng dạy đang theo học các chương trình thạc sĩ, tiến sĩ và tương đương.

 Về độ tuổi tính đến thời điểm hiện tại, trong số 2.549 cán bộ giảng dạy có gần 80% cán bộ có độ tuổi dưới 45 tuổi. Việc định hướng bồi dưỡng ngoại ngữ cho cán bộ giảng dạy có độ tuổi trẻ là rất quan trọng vì số lượng cán bộ thuộc đối tượng này chiếm tỷ trọng rất lớn.

 

1.1.     Độingũ cán bộ giảng dạy các chuyên ngành

 Trình độ ngoại ngữ của cán bộ giảng dạy không đồng đều giữa các đơn vị. Một số đơn vị có số lượng cán bộ thông thạo ngoại ngữ cao như Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm, Khoa Quốc tế...  Đây là các trường có đội ngũ cán bộ được đào tạo ở nước ngoài nhiều, đồng thời có các sự hỗ trợ của các chương trình dự án cho công tác bồi dưỡng ngoại ngữ của nhà trường, như chương trình tiên tiến của Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm, chương trình hợp tác quốc tế song phương với các trường Đại học Anh Quốc, Hội đồng Anh của Khoa Quốc tế.        

 Hiện tại chưa có khảo sát và thống kê đầy đủ năng lực ngoại ngữ của cán bộ giảng dạy không chuyên ngữ. Tuy nhiên theo kết quả kiểm tra 63 cán bộ giảng dạy của một số chuyên ngành (Toán, Thương mại quốc tế, Công nghệ Thông tin, Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) được Đề án NNQG 2020 chọn làm thí điểm giảng dạy một số môn học bằng tiếng Anh cho thấy: 69,5% cán bộ giảng dạy mới có trình độ A1 và A2, còn lại là B1.

 Như vậy có thể nói rằng thực trạng năng lực tiếng Anh của cán bộ giảng dạy còn rất hạn chế.

1.2.     Độingũ cán bộ giảng dạy chuyên ngữ

+ Cán bộ giảng dạy tiếng Anh:

Hiện nay, ĐHTN có 151 giảng viên giảng dạy tiếng Anh cho cả sinh viên chuyên ngữ và không chuyên ngữ. Nhìn chung lực lượng giảngviên tiếng Anh còn ít, khoảng 200 SV/GV. Trìnhđộ giảng viên không đồng đều, chưa được trang bị kiến thức đầy đủ và đồng bộ về phương pháp giảng dạy ngoại ngữ.

            - Về mặt bằng cấp:Trong số 151 giảng viên tiếng Anh, 41 giảng viên có trình độ đại học,  86 người có trình độ thạc sĩ, 23 nghiên cứu sinh và 01 tiến sĩ (Bảng1).  90% số cán bộ giảng dạy tiếng Anh trong toàn Đại học có độ tuổi dưới 45.

 

 

Bảng1: TRÌNH  ĐỘ TIẾNG ANH CỦA CBGD THEO CÁC ĐƠN VỊ

TT

Đơn vị

Tổng số

Đại học

Thạc sỹ

NCS

Tiến sỹ

1

Trường ĐH Nông Lâm

12

4

3

5

0

2

Trường ĐH Sư Phạm

20

0

15

5

0

3

Trường ĐH CNTT và Truyền thông

17

0

16

1

0

4

Trường ĐH Khoa học

8

0

7

1

0

5

Trường ĐH Y Dược

7

1

5

1

0

6

Trường ĐH Kỹ thuật Công nghiệp

21

8

10

2

1

7

Trường ĐH Kinh tế và QTKD

17

13

4

0

0

8

Trường CĐ Kinh tế kỹ thuật

6

1

5

0

0

9

Khoa Ngoại ngữ

40

13

19

8

0

10

Khoa Quốc tế

3

1

2

0

0

 

Tổng

151

41

86

23

1

           - Về năng lực ngoại ngữ: Kết quả kiểm tra khảo sát 120 giảng viên tiếng Anh do Đề án NNQG 2020 tổ chức tháng 3 năm 2013 cho thấy: có 4 giảng viên đạt trình độ B1 (chiếm 2,5%), 48 giảng viên đạt trìnhđộ B2 (40%), 68 giảng viên đạt trình độ C1 (57,5%).  Đặc biệt trong số 38 giảng viên Khoa Ngoại ngữ được đánh giá, có 24% mới đạt trình độ B1 và B2, chưa có giảng viên nào đạt chuẩn C2 theo quy định của Bộ GD&ĐT đối với giảng viên ngoại ngữ giảng dạy sinh viên chuyên ngữ (Bảng 2). 

Bảng 2: THỐNG KÊ NĂNG LỰC NGOẠI NGỮ CỦA GIẢNG VIÊN TIẾNG ANH

(Số lượng giảng viên khảo sát: 120 giảng viên)

TT

Đơn vị

Đánh giá theo khung năng lực ngoại ngữ Châu Âu

Ghi chú

B1

B2

C1

C2

1

Trường ĐH Nông Lâm

1

0

1

0

 

2

Trường ĐH Sư Phạm

0

0

7

0

 

3

Trường ĐH CNTT và Truyền thông

0

13

4

0

 

4

Trường ĐH Khoa học

0

1

7

0

 

5

Trường ĐH Y Dược

0

6

1

0

 

6

Trường ĐH Kỹ thuật Công nghiệp

0

7

12

0

 

7

Trường ĐH Kinh tế và QTKD

0

8

6

0

 

8

Trường CĐ Kinh tế kỹ thuật

2

3

1

0

 

9

Khoa Ngoại ngữ

1

9

28

0

 

10

Khoa Quốc tế

0

1

1

0

 

11

Tổng

4

48

68

0

 

    + Cán bộ giảng dạychuyên ngữ tiếng Nga, Trung, Pháp:

Ngoài tiếng Anh, Khoa Ngoại ngữ còn giảng dạy tiếng Trung, tiếng Pháp và tiếng Nga. Tương tự như đối với cán bộ giảng dạy tiếng Anh, năng lực ngoại ngữ của nhiều cán bộ giảng dạy các ngoại ngữ này chưa đạt chuẩn theo quy định của Bộ GD&ĐT. Hầu hết số cán bộ giảng dạy ngoại ngữ này chưa được khảo sát về năng lực ngoại ngữ (Bảng 3).

Bảng 3: THỐNG KÊ NĂNG LỰC CỦA GIẢNG VIÊN TIẾNG PHÁP,

TIẾNG TRUNG, TIẾNG NGA

 

 

Ngoại ngữ

Tổng số

Đánh giá theo khung năng lực ngoại ngữ Châu Âu

Chưa khảo sát

TT

 

B1

B2

C1

C2

1

Tiếng Pháp

8

0

0

0

0

8

2

Tiếng Trung

27

0

0

14

0

13

3

Tiếng Nga

10

0

0

2

0

8

 

2.      Thực trạng đào tạo ngoại ngữ của sinh viên Đại học Thái Nguyên

Việc đào tạo ngoại ngữ cho sinh viên tại ĐHTN đã được thực hiện theo các yêu cầu của Bộ GD&ĐT. Tiếng Anh là ngoại ngữ chính đã được đưa vào chương trình giảng dạy bắt buộc của tất cả các trường.

Tuy nhiên việc giảng dạy ngoại ngữ tại các trường mới chỉ dừng lại ở số lượng các tín chỉ giảng dạy mà chưa xác định được chuẩn ngoại ngữ mà sinh viên cần đạt trong quá trình học tập và tốt nghiệp.

Bảng 4: THỰC TRẠNG VỀ VIỆC GIẢNG DẠY NGOẠI NGỮ CHO SINH VIÊN KHÔNG CHUYÊN NGỮ TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG THÀNH VIÊN CỦA ĐHTN

TT

Tên trường

Tên học phần* 

Số TC

Phương pháp đánh giá

Chuẩn đầu ra (dự kiến)**

1

Trường ĐH Khoa học

Tiếng Anh CS

Tiếng Anh CN

9

4

Điểm chuyên cần:       15%

Điểm kiểm tra giữa kỳ: 15% Điểm thi kết thúc HP: 70%

A2

2

Trường ĐH KT&QTKD

 

Tiếng Anh CS

Tiếng Anh CN

9

6

Giữa kỳ: Trắc nghiệm trên máy Cuối kỳ: Vấn đáp

TOEIC 400

3

Trường ĐH NL

Tiếng Anh CS

Tiếng Anh CN

3

4

Giữa kỳ: Kiểm tra viết

Cuối kỳ: Thi nói

A2/ TOEIC

300-500

4

Trường ĐH SP

Tiếng Anh CS

Tiếng Anh CN

6

-

+ Điểm thứ nhất: 30% 

+Điểm thứ hai: 70% (Thi viết cuối kỳ)

A2

5

Trường ĐH

Y - Dược

Tiếng Anh CS

Tiếng Anh CN

9

4

Kiểm tra thường xuyên

Thi cuối kỳ trắc nghiệm

B1

6

Trường ĐH CNTT&TT

Tiếng Anh CS

Tiếng Anh CN

8

4

- Bài kiểm tra, giữa kỳ:40 %

- Bài thi học phần: 60 %

( Vấn đáp)

A2 /

TOEIC 400

7

Trường ĐH Kỹ thuật công nghiệp

Tiếng Anh CS

Tự học

 

9

10

Kiểm tra thường xuyên 50%

Thi kết thúc học kỳ 50%

TOEFL 400 (2015)

7

Khoa QT

Tiếng Anh CS

Tiếng Anh CN

33

7

Viết

Vấn đáp

TOEFL iBT 65/ IELTS 5.5/ TOEIC 605

8

Trường CĐ KT-KT

Tiếng Anh CS

Tiếng Anh CN

6

3

Viết

Vấn đáp

A2

Ghi chú: * CS: Cơ sở; CN: Chuyên ngành.

               ** Chuẩn đầu ra dự kiến do các trường xây dựng và báo cáo

Nhìn chung môn ngoại ngữ (tiếng Anh) tại các trường thành viên thuộc Đại học Thái Nguyên chiếm thời lượng từ 8-12 tín chỉ (đối với sinh viên không chuyên).

Về cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy ngoại ngữ do các trường tự trang bị và 1 số trường được hỗ trợ từ đề án NNQG2020 và các chương trình khác. Phần lớn các trường đã có phòng học tiếng và sử dụng các phần mềm hỗ trợ giảng dạy ví dụ như EDO, Langmaster.

Một số hạn chế trong đào tạo ngoại ngữ cho sinh viên tại ĐHTN như sau:

- Hầu hết người học nhìn nhận ngoại ngữ là một môn học kiến thức chứ không phải là quá trình tập luyện để đạt được kỹ năng sử dụng ngôn ngữ trong những ngữ cảnh phù hợp.

- Giáo viên vẫn là trung tâm của quá trình giảng dạy, điều đó đồng nghĩa với việc sinh viên là đối tượng thụ động tiếp thu thông tin, họ chỉ làm theo những yêu cầu của giáo viên mà ít có sáng tạo trong việc sử dụng kiến thức mà họ đã tích lũy được.

- Việc dạy và học ngoại ngữ vẫn chỉ tập trung cho việc thi đỗ môn học này mà ít quan tâm đến việc sử dụng ngôn ngữ như một công cụ giao tiếp.

- Chương trình và sách giáo khoa  còn chú trọng nhiều đến ngôn ngữ hơn là phát triển kỹ năng, lấy giáo trình thay cho chương trình, thiếu thốn trang thiết bị, nếu có lại không có phần mềm hoặc người biết khai thác, sử dụng , thi và kiểm tra mỗi nơi một kiểu, không có chuẩn thống nhất.

(Trích Đề án chuẩn hóa NLNN ĐHTN)

Gửi phản hồiIn bài viết
  • Họ và tên:(*)
  • Địa chỉ:(*)
  • Email:(*)
  • Tiêu đề:(*)
  • Nội dung:(*)
Tin tức khác