ĐA chuẩn hóa NLNN

Nội dung(24-03-2014)

Tập trung phát triển đội ngũ giảng viên chuyên ngữ, sớm giải quyết dứt điểm việc chuẩn hóa đội ngũ giảng viên ngoại ngữ của Khoa Ngoại ngữ và tại các đơn vị thành viên khác.

1.      Đối với cán bộ giảng dạy

1.1.     Định hướng và ưu tiên chuẩn hóa năng lực ngoại ngữ cho cán bộ giảng dạy

- Tập trung phát triển đội ngũ giảng viên chuyên ngữ, sớm giải quyết dứt điểm việc chuẩn hóa đội ngũ giảng viên ngoại ngữ của Khoa Ngoại ngữ và tại các đơn vị thành viên khác.

- Đối với cán bộ giảng dạy không chuyên ngữ, ngoại ngữ là chìa khóa quan trọng trong việc phát triển chuyên môn. Tất cả mọi người đều phải học ngoại ngữ. Việc chuẩn hóa cần ưu tiên tập trung vào đối tượng cán bộ giảng dạy trẻ và đối tượng trong quy hoạch đào tạo.

- Thực hiện tốt công tác tuyển dụng cán bộ giảng dạy về chuẩn năng lực ngoại ngữ. Cần có quy định rõ ràng về trình độ ngoại ngữ và ngoại ngữ sử dụng trong việc tuyển dụng cán bộ viên chức.

1.2.     Quy định về các ngoại ngữ áp dụng trong đánh giá năng lực ngoại ngữ đối với cán bộ giảng dạy

 * Các căn cứ để quy định loại ngoại ngữ:

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, tiếng Anh là ngoại ngữ được sử dụng rộng rãi trên thế giới và cả trong nước. Đề án NNQG 2020 cũng đã tập trung vào phát triển và chuẩn hóa năng lực ngoại ngữ trong chiến lược phát triển NNQG đến năm 2020. 

Theo quy định của Liên hiệp Quốc (LHQ), ngôn ngữ chính thức được sử dụng tại Liên Qợp quốc bao gồm 6 thứ tiếng: tiếng Anh,  tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Trung, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Ả Rập.

Một số ngoại ngữ khác như tiếng Đức, tiếng Nhật, tiếng Hàn mặc dù không phải là ngôn ngữ chính thống của Liên Hợp Quốc nhưng số lượng người Việt Nam được đào tạo chuyên môn từ các nước nói tiếng này rất nhiều.

Thông tư 05/2012/TT-BGDĐT ngày 15/2/2012 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT hướng dẫn quy đổi chứng chỉ ngoại ngữ tương đương theo Khung tham chiếu Châu Âu cho các ngoại ngữ: Nga, Anh, Pháp, Đức, Trung, Nhật. Đối với một số chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế không thông dụng khác, Bộ GD&ĐT sẽ xem xét cụ thể trên cơ sở đề nghị của các cơ sở đào tạo.

            * Quy định về ngôn ngữ nước ngoài áp dụng tại ĐHTN:

Căn cứ vào quy định quốc tế về ngôn ngữ và điều kiện thực tế trong nước như đã phân tích ở mục trên, ĐHTN quy định Tiếng Anh là ngoại ngữ chính được ưu tiên trong chiến lược phát triển và hội nhập, trong đào tạo bồi dưỡng chuẩn hóa năng lực ngoại ngữ cho cán bộ giảng dạy.

Ngoài tiếng Anh, cán bộ giảng dạy được đào tạo chuyên môn và ngôn ngữ tại các nước nói tiếng Nga, Pháp, Trung, Tây Ban Nha, Đức, Nhật, Hàn cũng sẽ được xem xét trong tuyển dụng và đánh giá năng lực ngoại ngữ. Tuy nhiên các cán bộ giảng dạy thuộc nhóm đối tượng này vẫn được yêu cầu và khuyến khích học tiếng Anh như ngoại ngữ thứ hai để sử dụng trong công tác giảng dạy, nghiên cứu và hội nhập quốc tế.

1.3.      Quy định năng lực ngoại ngữ đối với công tác tuyển dụng

* Tiếng Anh:Tiếng Anh là ngoại ngữ sử dụng trong thi tuyển dụng cán bộ giảng viên hàng năm. Các ứng viên được tuyển dụng phải đạt chuẩn năng lực ngoại ngữ như sau:

Đạt trình độ A2 quốc tế đối với ứng viên thi vào ngạch viên chức nhưng không phải là cán bộ giảng dạy.

Đạt trình độ B1 quốc tế đối với ứng viên thi vào ngạch giảng viên.

Đạt trình độ C1 quốc tế đối với ứng viên thi vào ngạch giảng viên dạy ngoại ngữ.

* Các ngoại ngữ khác: Nếu các ứng viên được đào tạo chính quy và có bằng đại học, thạc sỹ hoặc tiến sỹ ở nước ngoài mà tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Trung, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Đức, tiếng Nhật, tiếng Hàn là ngôn ngữ được sử dụng trong quá trình học tập thì không phải kiểm tra năng lực ngoại ngữ khi tuyển dụng.

1.4.     Lộ trình cho việc chuẩn hóa năng lực ngoại ngữ đối với cán bộ giảng dạy

1.4.1.   Giai đoạn 2013-2015

* Đối với cán bộ giảng dạy chuyên ngữ:

Đến hết 2015:

100% cán bộ giảng dạy tiếng Anh phải đạt trình độ tối thiểu C1. Trong đó 20 % cán bộ giảng dạy tiếng Anh cho sinh viên chuyên ngữ đạt trình độ tiếng Anh C2 hoặc tương đương.

50% số cán bộ giảng dạy tiếng Anh được tham gia các khóa tập huấn trong nước và quốc tế về “Đổi mới phương pháp dạy học”, “ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học”, “phát triển khả năng nghiên cứu khoa học”.

Cán bộ giảng dạy các ngoại ngữ khác tại ĐHTN như tiếng Nga, tiếng Trung và tiếng Pháp cũng phải đảm bảo các trình độ quy chuẩn tương đương với quy chuẩn của tiếng Anh.

* Đối với cán bộ giảng dạy các chuyên ngành khác:

Đến hết 2015:

70% cán bộ giảng dạy các chuyên ngành khác là thạc sỹ phải đạt trình độ tiếng Anh B1 hoặc tương đương, hoặc đạt trình độ B1 ngoại ngữ khác được ĐHTN quy định.

60% cán bộ giảng dạy các chuyên ngành khác có trình độ Tiến sỹ, Phó giáo sư, Giáo sư phải đạt trình độ tiếng Anh B2 hoặc tương đương, hoặc đạt trình độ B2 ngoại ngữ khác được ĐHTN quy định.

80% cán bộ giảng dạy chuyên ngành bằng tiếng Anh phải đạt trình độ tiếng Anh C1 hoặc đã tốt nghiệp đại học, thạc sĩ, tiến sĩ tại nước ngoài mà tiếng Anh được sử dụng trong quá trình học tập.

1.4.2.   Giai đoạn 2016 - 2020

* Đối với cán bộ giảng dạy chuyên ngữ:

100% cán bộ giảng dạy tiếng Anh đạt trình độ tối thiểu C1, trong đó 40% cán bộ giảng dạy tiếng Anh cho sinh viên chuyên ngữ phải đạt trình độ tiếng Anh C2.

50% cán bộ giảng dạy tiếng Anh được tham gia các khoa tập huấn nâng cao tại nước ngoài.

Cán bộ giảng dạy các ngoại ngữ khác tại ĐHTN (tiếng Nga, Trung, Pháp) cũng phải đảm bảo cáctrình độ quy chuẩn tương đương với quy chuẩn của tiếng Anh (có danh mục quy chuẩn riêng cho từng ngoại ngữ).

* Đối với cán bộ giảng dạy các chuyên ngành khác:

100 % cán bộ giảng dạy các chuyên ngành khác là thạc sỹ phải đạt trình độ tiếng Anh B1 hoặc ngoại ngữ khác đạt trình độ B1 được ĐHTN quy định.

100 % cán bộ giảng dạy các chuyên ngành khác có trình độ Tiến sỹ, Phó giáo sư, Giáo sưphải đạt trình độ tiếng Anh B2 hoặc ngoại ngữ khác đạt trình độ B2 được ĐHTN quy định.

100% cán bộ giảng dạy chuyên ngành bằng tiếng Anh phải đạt trình độ tiếng Anh C1 hoặc đã tốt nghiệp đại học, thạc sĩ, tiến sĩ tại nước ngoài mà tiếng Anh là ngôn ngữ chính được sử dụng trong quá trình học tập.

1.5.     Quy định được miễn đánh giá năng lực ngoại ngữ đối với cán bộ giảng dạy

1.5.1.       Cán bộ giảng dạy được miễn đánh giá năng lực ngoại ngữ nếu đáp ứng được một trong các điều kiện dưới đây (Áp dụng cho cán bộ giảng dạy chuyên ngành không phải là giảng viên ngoại ngữ):

Những người đã học và có bằng đại học hoặc thạc sỹ, tiến sỹ ở nước ngoài mà tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Trung, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Đức, tiếng Nhật, tiếng Hàn Quốc là ngôn ngữ được sử dụng trong quá trình học tập.

Những người tốt nghiệp thạc sỹ và tiến sỹ trong nước đã có chứng chỉ ngoại ngữ B1 (đối với thạc sỹ) và B2 (đối với tiến sỹ) theo quy định của Bộ GD&ĐT (Thông tư số 10/2011/TT-BGDĐT ngày 28/2/2011).

Những người có chứng chỉ ngoại ngữ B1 hoặc tương đương (đối với thạc sỹ), B2 hoặc tương đương (đối với tiến sỹ) do quốc tế cấp hoặc do các đơn vị khảo thí trong nước được Bộ GD&ĐT công nhận cấp.

Những người đã có bằng đại học ngoại ngữ chính quy.

1.5.2.     Quy định độ tuổi được miễn đánh giá năng lực ngoại ngữ

* Đối với cán bộ giảng dạy chuyên ngữ:Nam từ 55 tuổi và nữ từ 50 tuổi trở lên (tại thời điểm 31/12/2015)

* Đối với cán bộ giảng dạy các chuyên ngành khác:Nam từ 50 tuổi và nữ từ 45 tuổi trở lên (tính tại thời điểm 31/12/2015).

             Những cán bộ giảng dạydưới độ tuổi quy định trên đều phải học và tham gia đánh giá chuẩn hóa năng lực ngoại ngữ.

2.      Đối với sinh viên

2.1.     Lộ trình thực hiện

* Giai đoạn từ 2013  đến 2015

Sinh viên chuyên ngữ: Bậc đại học cần đạt trình độ ngoại ngữ bậc 5 (C1); bậc cao đẳng cần đạt trình ngoại ngữ bậc 4 (B2). Áp dụng cho sinh viên tốt nghiệp từ năm 2014 (đối với sinh viên chuyên ngữ tiếng Anh), từ 2015 (đối với sinh viên song ngữ và các chuyên ngữ khác).

Sinh viên không chuyên ngữ: bậc đại học và cao đẳng cần đạt trình độ ngoại ngữ tối thiểu bậc 2 (A2). Áp dụng cho sinh viên tốt nghiệp từ năm 2015 (trừ đối tượng tuyển sinh đối với sinh viên cử tuyển và sinh viên được xét tuyển thẳng thuộc huyện nghèo theo quy định của Chính phủ).

* Giai đoạn từ 2016- 2020

Sinh viên chuyên ngữ: Bậc đại học cần đạt trình độ ngoại ngữ tối thiểu bậc 5 (C1); Bậc cao đẳng cần đạt trình ngoại ngữ tối thiểu bậc 4 (B2).

Sinh viên không chuyên ngữ: Bậc đại học cần đạt trình độ ngoại ngữ bậc 3 (B1); bậc cao đẳng cần đạt trình ngoại ngữ tối thiểu bậc 2 (A2),

2.2.     Quy định về việc miễn đánh giá năng lực tiếng Anh đối với sinh viên

   Các sinh viên không chuyên ngữ đã có chứng chỉ ngoại ngữ bậc 3 (B1) đối với bậc đại học, bậc 2 (A2) đối với bậc cao đẳng sẽ được miễn học và đánh giá ngoại ngữ (ĐHTN sẽ có quy định cụ thể về việc miễn học và đánh giá ngoại ngữ, các loại chứng chỉ được công nhận).

(Trích Đề án chuẩn hóa NLNN ĐHTN)

Gửi phản hồiIn bài viết
  • Họ và tên:(*)
  • Địa chỉ:(*)
  • Email:(*)
  • Tiêu đề:(*)
  • Nội dung:(*)
Tin tức khác